Vai trò sinh học của silic

Silic rất cần cho thực vật cũng như cho động vật và người.

Thực vật sử dụng silic để tạo các mô thực bì . silic làm cho thành tế bào cứng hơn và mền hơn , tránh được sự phá huỷ của côn trùng và sự sâm nhập của nấm móc .

Silic có trong hầu hết tế bào của động vật và người , đặt biệt ở tuyến tuỵ, gan , lông , toc, xương, răng, sụp rất giàu silic. Trong sương, răng và sụp của bệnh nhân lao, l;ượng silic giảm đáng kể so với ngưởi khoẻ mạnh. Ở những người bị bệnh eczema, vẩy nến, hàm lượng silic trong máu giảm rõ rệt, còn bị bẹnh đại tràng thì ngược lại, hàm lượng silic trong máu tăng lên.

Advertisements

Vai trò sinh học của photpho

Photpho rất cần cho người và động vật. Trong cơ thể người khoảng 90% photpho tập trung ở xương, khoảng 10% tập trung ở các cơ, gần 1% ở các tế bào não (dưới dạng các hợp chất vô cơ và hữu cơ). Ở các cơ, gan, não và các bộ phận khác của cơ thể, photpho nằm dưới dạng các photphatit và các este của axit photphoric.

Viện sĩ A.E Fecman gọi photpho là “nguyên tố của sự sống và tư duy”. Người lao động trí óc cần lượng photpho nhiều hơn để không bị suy mòn các tế bào thần kinh giữ chức năng chuyển tải những ý nghĩ khi làm việc bằng trí óc. Cơ thể thiếu photpho sẽ giảm khả năng làm việc, loạn thần kinh chức năng và phá huỷ sự trao đổi chất. Ăn các loại rau, quả như xà lách, đỗ, cà rốt, cà chua, cà tím, ớt ngọt, dâu tây, mơ,… sẽ bổ sung cho cơ thể lượng photpho bị thiếu hụt. Các thực phẩm giàu photpho có nguồn gốc động vật gồm có thịt, óc, gan bò, cá, trứng, các sản phẩm sữa…

Muối Iot

Để cơ thể khoẻ mạnh, con người cần được cung cấp đầy đủ các nguyên tố hoá học cần thiết. Có những nguyên tố cần được cung cấp với khối lượng lớn và có những nguyên tố cần được cung cấp với khối lượng nhỏ (vi lượng). Iot là một nguyên tố vi lượng hết sức cần thiết đối với con người. Theo các nhà khoa học, mỗi ngày cơ thể con người cần được cung cấp từ 1.10-4 đến 2.10-4 gam nguyên tố iot.

Cơ thể tiếp nhận được phần iot cần thiết dươi dạng hợp chất của iot có sẵn trong muối ăn và một số loại thực phẩm. Nhưng việc thiếu hụt iot vẫn thường xảy ra. Hiện nay, tính trên toàn thế giới một phần ba số dân bị thiếu iot trong cơ thể. Ở Việt Nam, theo điều tra mới nhất, 94% số dân thiếu hụt iot ở những mức độ khác nhau.

Thiếu hụt iot trong cơ thể dẫn đến hậu quả rất tai hại. Thiếu iot làm não bị hư hại nên người ta trở nên đần độn, chậm chạp, có thể điếc, câm, liệt chi, lùn. Thiếu iot còn gây ra bệnh bướu cổ và hàng loạt rối loạn khác, đặc biệt nguy hiểm đối với bà mẹ và trẻ em.

Để khắc phục sự thiếu hụt iot, người ta phải cho them hợp chất của iot vào thực phẩm như : muối ăn, sữa, kẹo…

Việc dùng muối ăn làm phương tiện chuyển tải iot vào cơ thể người được nhiều nước áp dụng.

Muối iot là muối ăn có trộn them một lượng nhỏ hợp chất của iot (thường là KI hoặc KIO3). Thí dụ : Trộn 25 kg KI vào một tấn muối ăn.

Người ta cũng cho them hợp chất iot vào bột canh, nước mắm…

Việc dùng muối iot thật dễ dàng và đơn giản. Về mùi vị, màu sắc, muối iot không khác gì muối ăn thường. Tuy nhiên hợp chất iot có thể bị phân huỷ ở nhiệt độ cao. Vì vậy phải thêm muối iot sau khi thực phẩm đã được nấu chín.

Khí hiđro sunfua của biển Đen

 

Ở đáy của Biển Đen, khí hiđra sunfua hình thành một cách thường xuyên do các muối sunfat hoà tan trong nước biển tương tác với các chất hữu cơ thải xuống biển.

CaSO4 + CH4              => CaS + CO2 ­ + 2H2O

CaS + H2O + CO2       => CaCO3  + H2S ­

Trong những phản ứng này, canxi sunfat CaSO4 đã chuyển hoá thành canxi sunfua CaS và cacbon đioxit CO2, sau đó CaS tương tác với cacbon đioxit CO2 và nước, chuyển hoá thành canxi cacbonat CaCO3 và lắng xuống đáy biển, đồng thời giải phóng ra khí hiđro sunfua H2S.

Quá trình này lien quan đến hoạt động sống của các vi sinh vật chuyển hoá sunfat. Khí H2S không kịp bốc lên đến các tầng nước mặt vì rằng tại độ sâu khoảng 150m nó đã gặp oxi khuếch tán từ trên tầng nước mặt xuyên sâu xuống. Cũng tại độ sâu này có nhiều vi khuẩn lưu huỳnh sinh sống, có khả năng oxi hoá H2S thành lưu huỳnh.

2H2S + O2 => 2H2O + 2S

Trong những năm gần đây liên quan đến thảm hoạ ô nhiễm Biển Đen, ranh giới phía trên của mực nước biển có mặt khí H2S càng nâng cao lên dần đã iêu diệt hoàn toàn mọi sinh vật trên đường dịch chuyển ranh giới. Ranh giới chết này gần đây đã nâng lên đến độ sâu 40m kể từ mặt nước biển.

Flo có độc hại không ?

 

Flo F2 ở thể khí, độc chết người. Ảnh hưởng của flo dưới dạng ion âm F lên động vật và thực vật cũng đã được biết khá rõ : ở liều thấp là có ích, còn ở liều cao gây huỷ hoại nghiêm trọng hoạt động sống. Ion florua vào cơ thể động vật và người theo nước uống. Nếu hàm lượng flo trong nước dưới 0,5 mg/l thì răng sẽ bị chứng sâu răng nhưng khi quá 1,2 mg/l cũng vẫn gây bệng răng – bệnh thừa flo và diễn ra sự rối loạn trao đổi photpho – canxi trong cơ thể.

Người ta đã từng biết trường hợp sau : Sau Đại chiến thế giới II, theo “kế hoạch Macsan” một số Công ti Mĩ nhập bia vào Pháp. Vì chuyên chở kéo dài thời gian, bia nhanh chóng bị giảm chất lượng. Để ổn định chất lượng bia, người ta them vào bia một lượng axit flohiđric HF không đáng kể, thế là bia vẫn giữ được phẩm chất. Chẳng bao lâu, tại Pháp người ta đã ghi nhận được mười ngàn trường hợp bị hỏng men răng ở những người nghiện bia ướp lạnh. Thừa flo đã gây ra bệnh tai hại mà tiếng Hi Lạp gọi là bệnh “fluoros” tức là bệnh phá huỷ răng.

Ngọn lửa màu xanh không gây bỏng

 

Vào năm 1796 Vinhem Lampađiuxơ (1722 – 1842), tiến sĩ hoá học và luyện kim của Viện Mỏ ở Phreibua (Xacxôni), lần đầu tiên đã điều chế được hợp chất của cacbon và lưu huỳnh khi cho hơi lưu huỳnh S đi qua than củi nung nóng đỏ. Hoá chất có tên gọi là cacbon đisunfua CS2 :

C + 2S => CS2

Chất lỏng (CS2) do ông điều chế lập tức thể hiện các tính chất không bình thường của mình. Khi Lampađiuxơ nhúng vào chất lỏng một chiếc đũa thuỷ tinh đã đun nóng thì thấy xuất hiện ngọn lửa nguội màu xanh, không hề làm bỏng ngón tay.

Thuốc chuột

 

Tại sao những con chuột sau khi ăn thuốc chuột lại đi tìm nước uống. Vậy thuốc chuột là gì ? Cái gì đã làm chuột chết ? Nếu sau khi ăn thuốc mà không có nước uống nó chết mau hơn hay lâu hơn ?

Thuốc chuột là Zn3P2, sau khi ăn Zn3P2 bị thuỷ phân rất mạnh, hàm lượng nước trong cơ thể chuột giảm, nó khát và đi tìm nước :

Zn3P2 + 6H2O => 3Zn(OH)2 + 2PH3 ­

Chính PH3 đã giết chết chuột.

Càng nhiều nước đưa vào => PH3 thoát ra càng nhiều => chuột càng nhanh chết. Nếu không có nước chuột chết lâu hơn.