Giải Noben Hóa học

GiaiNoben (1)

Advertisements

Amedeo Avogađro


Ông là nhà hoá học và vật lý học người Italia,một trong những người sáng lập ra thuyết nguyên tử,phân tử,đã phát minh ra định luật mang tên ông sau này.

Kế tục truyền thống của gia đình,Avogađrô đã trở thành một trạng sư,nhưng lòng ham thích khoa học tự nhiên từ khi còn thanh niên đã đột ngột thay đổi đường đời của ông.Năm 1806,ông bắt đầu giảng dạy Vật lý ở Trường đại học tổng hợp Turin.Những công trình quan trọng hơn của của Avogađrô đối với sự phát triển những luận điểm cơ bản của hoá học là ba bài báo đăng trong những năm 1811-1821.Trong những bài báo này đã nêu lên những kết luận quan trọng nhất mà về sau đã làm cơ sở cho thuyết nguyên tử-phân tử.

Avogađrô là người đầu tiên bắt đầu xác định một cách hệ thống thành phần định tính và định lượng của hợp chất từ tỉ lệ thể tích của các chất khí tạo thành hợp chất đó.Điều này đã cho phép Avogađrô xác định chính xác công thức các hợp chất quan trọng như amoniac,nitơ oxit,hidro sunfua,etylen,metan và nhiều chất khác.Avôgađrô đã viết công thức của nước là H2O,khác với công thức do Dalton đề ra là HO,công thức của khí cacbonic là CO2,thay cho công thức CO đã được công nhận trước kia,công thức của Cacbon (II) oxit là CO thay cho C2O,công thức của mêtan là CH4 thay cho trước kia là CH2,công thức etylen là C2H4 thay cho CH (tất cả các công thức được viết dựa trên cơ sở những quan niệm hiện đại về khối lượng nguyên tử tỉ đối của các nguyên tố khác nhau và dựa trên việc sử dụng các kí hiệu hoá hiện đại).

Avogađrô đã phát minh một định luật cho phép xác định các đặc trưng về lượng của các chất ở thể khí,định luật này từ khi đó,được công nhận rộng rãi : những thể tích khí bằng nhau của các chất khí khác nhau chứa cùng số phân tử khí trong những điều kiện nhiệt độ và áp suất như nhau.Định luật này mang tên người phát mình.

Avogađrô đã giả định là ngay cả những chất khí đơn giản như nitơ,oxi,hiđro đều tồn tại ở dạng phân tử hai nguyên tử như Dalton và sau này Becxeliut (I. Berzelius) đã giả định.

Dựa trên cơ sở những lập luận đó,Avogađrô đã đề nghị một phương pháp đơn giản và tin cậy để xác định khối lượng tỉ đối của phân tử các chất ở thể khí bằng cách chia tỉ khối của của chất khí cho tỉ khối của hidro làm chuẩn.

Khi đối chiếu khối lượng phân tử các chất khí xác định được bằng phương pháp trên với thành phần của chúng,Avogađrô đã tìm ra khối lượng phân tử và khối lượng nguyên tử của oxi,nitơ,cacbon,lưu huỳnh,photpho,clo,gần bằng giá trị hiện nay.

Sự phát triển tiếp theo của thuyết phân tử của Avogađrô ở nửa sau thế kỉ XIX đã dẫn đến sự phát biểu rõ ràng của một trong số những khái niệm quan trọng nhất của hóa học : nguyên tử,phân tử,đương lượng.

Chuyện của Menđêleep

Menđêlêep đã trở thành nhân vật nổi tiếng ở Nga; mỗi khi ra đường thường có rất nhiều người ngưỡng mộ ông đi theo sau. Ông là người có tính cách hào phóng, thẳng thắn, chân thành, không câu nệ các chi tiết vụn vặt, ngay cả với người giúp việc cũng thân tình cởi mở. Menđêlêep là nhiềm kiêu hãnh của giới khoa học Nga, cũng là người thầy được học sinh yêu quý nhất ở trường Đại học Pêtécbua.

Bài giảng của Menđêlêep sinh động, hấp dẫn, hội trường ông giảng bài luôn chật cứng người, thậm chí ngay cả các phòng học xung quanh cũng kín người ngồi nghe. Bài ông giảng nội dung rất rộng. giảng giải kỹ càng, lại thêm kiến thức văn học sâu rộng, ngôn từ xúc tích nên có sức thu hút rất lớn. Mọi người đều nghĩ “Ông giống một nhà diễn thuyết tài ba”.
Nhưng chính nhà khoa học được nhiều người ngưỡng mộ như vậy lại bị chính phủ chuyên chế Sa hoàng bài xích.

Một viện sỹ Viện Hàn lâm khoa học Nga mất, theo điều lệ của Viện Hàn lâm khoa học Nga, sau khi khuyết vị trí thì cần bầu bổ sung. Rất nhiều viện sỹ đề nghị bầu đích danh Menđêlêep đồng thời cũng khẳng định: “Menđêlêep đủ tư cách có chân trong Viện Hàn lâm, đây là điều không ai có thể phủ nhận được”.

Tuy nhiên, điều mà mọi người không thể ngờ đến là Menđêlêep lại không trúng tuyển vào Viện Hàn lâm khoa học Nga. Kẻ thống trị Viện Hàn lâm khoa học Nga chính là Chính phủ Sa hàng, chính phủ chuyên chế không chỉ biến khoa học tự nhiên như triết học trở thành nô tỳ mà còn muốn biến hoa học tự nhiên cũng trở thành công cụ đắc lực cho họ. Vì Menđêlêep đã từng tham gia biểu tình phản đối Sa hoàng cho nên bọn tay chân của Sa hoàng đã dùng thủ đoạn bỉ ổi để thao túng cuộc bầu chọn.

Menđêlêep cảm thấy bị tổn thương, ông hiểu rất rõ rằng đây không chỉ là tổn thương đối với cá nhân mình mà còn tổn thương đối với nhân dân Nga, đồng thời cũng là tổn thương đối với Chính phủ Sa hoàng vì rằng họ đã miệt thị một cách cực đoan đối với khoa học.

Sau khi tin Menđêlêep không trúng tuyển vào Viện Hàn lâm khoa học truyền đi, đã có rất nhiều nhà khoa học và một số tổ chức tiến bộ tỏ ý phản đối, họ bày tỏ sự ủng hộ đối với Menđêlêep, chỉ trích chính phủ Sa hoàng chuyên chế và xấu xa. Có người đã viết thư gửi Menđêlêep nói: “Thế lực phản độg đen tối không thể bưng bít được tiếng nói của các nhà khoa học”. Gần như tất cả các trường đại học ở Nga đều chọn ông làm giáo sư danh dự của trường, rất nhiều Viện Hàn lâm khoa học nổi tiếng như: Viện Hàn lâm khoa học Luân Đôn, Pari,… mời ông làm viện sỹ danh dự, điều này thể hiện sự ủng hộ của giới khoa học trên thế giới đối với ông.

Menđêlêep cảm thấy yên lòng, ông nói: “Tôi hiểu sâu sắc rằng đây không chỉ là niềm vinh dự đối với tôi mà còn là niềm vinh dự đối với nhân dân Nga”.

Menđêlêep không được bầu vào Viện Hàn lâm khoa học, nhưng hoa học không bao giờ chịu phục tùng chính phủ chuyên chế, khoa học là thuộc về nhân dân, các nhà khoa học thuộc về nhân dân. Menđêlêep người không được bầu vào Viện Hàn lâm khoa học khi bước lên bục giảng Đại học Pêtécbua, học sinh của ông đã đón ông bằng những tiếng vỗ tay vang dội, nó thể hiện sự kính trọng của họ đối với ông, tiếng hoan hô như tiếng sấm, đó là tình yêu của học sinh đối với ông – người giáo sư đáng kinh Menđêlêep.

Menđêlêep cảm thấy vô cùng vinh dự và trách nhiệm trước lịch sử cũng hết sức nặng nề. “Gieo trồng hạt, giống khoa học để nhân dân có mùa màng bội thu”, đâylà câu nói mà Menđêlêep mãi mãi khắc cốt ghi xương.

Cứ để cho anh ta rửa chai lọ

Ghé thăm một người bạn, cũng là Viện sĩ Hoàng gia Anh là Papy, Humphry Davy kể : “Đây là lá thư của một chàng thanh niên thường đến dự các bài giảng của tôi. Anh ta đến xin một chân gì đó trong Viện. Chả hiểu nên xếp cho anh ta việc gì !”

Papy ngạc nhiên :

-“Việc gì à ? Cứ để anh ta rửa chai lọ. Nếu anh ta đồng ý thì ít ra cũng có chút lợi ích cho công việc. Còn nếu không, anh ta chẳng đáng giá một xu !”

“Chàng thanh niên đồng ý và làm việc rất cần cù không kêu ca một lời. Anh ta chính là… Michael Faraday – một nhà bác học lớn đến nỗi Davy tự hào rằng : “Trong số phát minh của tôi thì phát minh lớn nhất của tôi là… “phát minh” ra Faraday !”

Cao gầy, dáng điệu nhanh nhẹn, nhà hóa học Đức Friedrich Wohler trông trẻ trung đến nỗi ông rất giống con trai mình. Khi người ta giới thiệu ông với Michael Faraday, Faraday đã vui vẻ siết chặt tay ông :

-“Tôi rất sung sướng được làm quen với con trai của nhà hóa học đầu tiên tổng hợp được chất hữu cơ và xin nhiệt liệt chúc mừng cha anh !”.

Hóa học khác toán học ở chỗ nào ?

 

 

 

Avogadro 

                                                                                                                                                                     Gauss

Một hôm, nhà toán học Đức Karl Gauss tranh luận với nhà hóa học Ý Avogadro. Ông Gauss tỏ ra khinh thường hóa học và cho rằng chỉ có toán học mới có các định luật, còn hóa học chỉ là người phục vụ cho toán học mà thôi.

Avogadro dẫn Gauss vào phòng thí nghiệm và tự mình làm phản ứng : cho một thể tich O2 tác dụng với hai thể tích H2 để tạo thành hai thể tích H2O ở dạng hơi:

2H2 (k) + O2 (k) → 2H2O (h)

Lúc đó nhà hóa học mới mỉm cười bảo nhà toán học :

-Ngài thấy chưa ? Nếu hóa học đã muốn thì toán học phải chào thua. Hai cộng một, bất chấp toán học cũng vẫn chỉ là hai thôi đấy.

Linus Pauling

Linus Pauling (1901-1994)

Pauling – nhà hóa học vĩ đại của Mỹ thế kỉ 20 – sinh ngày 28-02-1901, tại Porland. Ông tốt nghiệp Viện Nông Nghiệp Oregon (nay gọi là trường Đại học Tổng hợp bang Oregon) năm 1922, và nhận học vị Tiến sĩ Hóa học tại Caltech năm 1925.

Trong những năm 20 của thế kỉ này, Pauling là một trong những nhà khoa học đầu tiên sử dụng được công cụ mới đó là tinh thể tia X để xác định cấu trúc phân tử. Từ đó, ông đi sâu nghiên cứu vai trò của cấu trúc phân tử trong chức năng phân tử.

Các công trình nghiên cứu của Pauling về bản chất của các liên kết hóa học (kể cả những khái niệm về cộng hưởng và lai tạo) đã làm thay đổi tận gốc bộ môn hóa học. Việc áp dụng thuyết cấu tạo hóa học của Pauling vào các phân tử sinh học đã mở đầu một cuộc cách mạng trong sinh học phân tử, mà đến nay vẫn còn tiếp diễn. Do những đóng góp cho môn hóa học, đặc biệt là công trình về liên kết hóa học, Pauling được tặng giải Nobel Hóa học năm 1954.

Ngoài hoạt động khoa học, Pauling còn là một chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình, cấm vũ khí hạt nhân, chống chiến tranh. Vì vậy, ông được tặng giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1962. Ông là người độc nhất từ xưa đến nay nhận 2 giải thưởng Nobel mà không phải chia sẻ với ai. Nhưng cũng chính vì hoạt động của mình mà Pauling đã bị Ủy ban điều tra những hoạt động chống nước Mỹ của Hạ viện quy ông là người có cảm tình với cộng sản. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ từ chối không cấp hộ chiếu cho ông ra nước ngoài.

Năm 1960, Pauling bị kết tội coi thường Quốc hội, vì không giao cho Thượng viện danh sách những nhà khoa học đã giúp ông thu thập chữ kí để ra bản tuyên bố cấm thử vũ khí hạt nhân. Năm 1963, sau 21 năm ở cương vị Chủ tịch phân ban Hóa học và Hóa Kỹ thuật, ông rời Caltech. Pauling tham gia Hội Hóa học Mỹ từ những năm 1920, là Chủ tịch của Hội năm 1949, và là Ủy viên ban chấp hành trong những năm 1948 – 1950. Pauling công khai tỏ ý bất bình về việc năm 1954, Ban chấo hành Hội từ chối không kết nạp Irène Joliot Curie – người được giải thưởng Nobel Hóa học – làm thành viên của Hội Hóa học Mỹ, do Hội không thừa nhận quan điểm chính trị của bà.

Trong những năm cuối đời, nhiều rạn nứt trong quan hệ của Pauling với các tổ chức đã được hàn gắn. Hội Hóa học Mỹ đã trao cho ông vinh dự cao nhất – huân chương Priestley năm 1984.

Ông qua đời ngày 18-09-1994 (do bệnh ung thư) tại trang trại của ông ở Bắc Carolina, thọ 93 tuổi. Lý Khôi biên soạn
hoahocvietnam.com

Lời tiên tri không tự giác


Vào một ngày thu ấm áp, tiếng cười đùa của lũ trẻ không cản trở thầy giáo Rolan mơ màng ngủ gà ngủ gật. Bỗng từ tầng dưới của một kí túc xá riêng ở Kazan vang lên một tiếng nổ long trời. Chắc mẩm đã xảy ra một sự cố gì nguy hiểm, thầy vội vã lao xuống tầng hầm và lát sau lôi ra được một chú bé mặt mày tái nhợt, đầu tóc bù xù. Đó là chú bé Butlerov, một học sinh rất say mê môn hóa, lợi dụng lúc vắng người, đã bí mật biến nhà ở thành “phòng thí nghiệm” riêng của mình.

Vì hành động tinh nghịch đó, thầy đã phạt giam cậu và theo quyết định “sáng suốt” của Hội đồng nhà trường, cậu đã bị dẫn diễu qua nhà ăn, trước ngực đeo một tấm bảng có ghi hàng chữ lớn : “Nhà hóa học vĩ đại”.

Tất nhiên, khi nghĩ ra hàng chữ chế nhạo này, các thầy giáo của Xasa đâu có ngờ đó đã trở thành lời tiên đoán của kẻ đã “vi phạm nội quy nhà trường” sẽ trở thành nhà hóa học vĩ đại thực sự Butlerov – niềm tự hào và vinh quang của nền khoa học Nga và thế giới.